Kể từ khi bắt đầu quan trắc môi trường, một số chỉ số chất lượng được đưa ra để giúp phân loại và làm rõ ý nghĩa của số lượng đáng kể các dữ liệu liên quan.
Quy định về quản lý cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia về quan trắc môi trường
Bộ Tài nguyên & Môi trường vừa ban hành Thông tư 07/2016/TT-BTNMT quy định các bộ dữ liệu, chuẩn dữ liệu và xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2016. Theo đó, bộ dữ liệu khí tượng thủy văn bao gồm tất cả các thông tin, dữ liệu khí tượng thủy văn quy định tại Điều 29 và thông tin, dữ liệu về giám sát biến đổi khí hậu quy định tại khoản 2 Điều 34 Luật Khí tượng Thủy văn, được sắp xếp thành các bộ sau:
Bộ dữ liệu về quan trắc, điều tra, khảo sát khí tượng, thủy văn, hải văn, môi trường không khí và nước; Bộ dữ liệu về dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; Bộ dữ liệu về hồ sơ kỹ thuật trạm và giấy phép dự báo, cảnh báo khí tượng thủy văn; 4- Bộ dữ liệu về biến đổi khí hậu; Bộ dữ liệu nghiên cứu khoa học, chương trình, dự án về khí tượng thủy văn; 6- Bộ dữ liệu văn bản quy phạm pháp luật về khí tượng thủy văn. Hồ sơ quan trắc môi trường mô tả các quá trình và các hoạt động cần được thực hiện để mô tả và quan trắc chất lượng môi trường. Quan trắc môi trường được sử dụng trong việc chuẩn bị của các đánh giá tác động môi trường, cũng như trong nhiều trường hợp trong đó các hoạt động của con người mang một nguy cơ tác hại đến môi trường tự nhiên. Tất cả các chiến lược và chương trình quan trắc môi trường và sự biện minh mà thường được thiết kế để thiết lập tình trạng hiện tại của một môi trường hoặc để thiết lập các xu hướng trong các thông số môi trường. Trong mọi trường hợp kết quả quan trắc sẽ được xem xét, phân tích thống kê và công bố. Các thiết kế của một chương trình quan trắc do đó phải có liên quan đến việc sử dụng cuối cùng của dữ liệu trước khi quan trắc bắt đầu.

